Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Đến Mộc Châu thưởng thức cá suối tuyệt ngon

(Mytour.vn) - Bữa tối đầu tiên ở Mộc Châu (Sơn La), tôi gọi món cá suối vốn được mệnh danh là “đặc sản” ở đây. Chẳng biết món cá suối từ dòng Đà Giang dữ dội và trữ tình trong văn chương của Nguyễn Tuân có gì khác với món cá từ dòng sông Gâm trên Cao nguyên đá hay suối Mường Hoa, Mường Tiên ở Sa Pa?

Bưng lên cho chúng tôi đĩa cá vàng ươm còn nóng hổi, chị nhân viên phục vụ bảo: “Các em đến muộn chút nữa thì không còn món này để gọi. Vào ngày cuối tuần, 7-8 kg cá cũng không đủ bán cho khách".

Con số trên quả ấn tuợng, bởi có ngày những người đánh cá ở huyện Phù Yên chỉ bắt được khoảng 2-3 kg cá. Những con cá được mang về từ huyện miền núi tiếp giáp Mộc Châu, nơi những con suối chảy dài nối vào dòng Đà Giang thơ mộng. Món này thường được nhà hàng bán với giá 100.000 đồng/đĩa.



Cá suối Hà Giang thân dẹt, đầu dẹt, nhiều vảy nhưng rán lên thì giòn tan. Những chú cá suối Mộc Châu tròn lẳn, miệng cũng tròn vo. Có con bé xíu như ngón tay út, có con nhỉnh hơn hai ngón tay. Những con cá mà người phục vụ cũng không biết tên, chỉ gọi chung là cá suối.

Ở các nhà hàng, ngon và đơn giản nhất là chiên vàng. Khi ấy, cả thịt và xương cá đều giòn tan. Sau lớp vảy vàng phồng lên vì mỡ nóng, thịt cá thơm ngọt. Nhai phần đầu cá tròn xoe sẽ thấy chút sạn sạn trong miệng, nhưng có hề gì bởi nó sẽ chìm ngay trong vị bùi béo không gợn chút tanh tao, đưa đẩy thêm hương vị của bát nước mắm nguyên chất thả vài lát ớt đỏ tươi.

Tôi chợt nhớ đến món cá khô ăn ở nhà một cô bạn tại Vĩnh Phúc. Mẹ cô ấy mua cá tươi bắt ở sông Đà trong một lần đi qua Sơn La, rồi tự phơi khô. Cũng những con cá mình tròn lẳn, đầu đen chắc như thế này, cũng chiên vàng giòn rồi chấm nước mắm nguyên chất đâm ớt hiểm vườn nhà. Và hương vị của nó cũng tuyệt vời chẳng kém món cá suối tôi đang ăn giữa cao nguyên Mộc Châu lạnh giá.



Có một điều thú vị, là những bữa cơm tôi ăn ở Mộc Châu bao giờ cũng được dọn kèm một rổ rau sống xanh mơn mởn. Xà lách, bắp cải thái nhỏ, trộn với rau mùi và húng quế xanh mơn. Rau sống, ăn với bê chao cũng ngon, mà chấm nước mắm ăn kèm cá suối lại càng tuyệt vời.

Ngày thứ hai ở đây, tôi đã được chứng kiến cái hiếm hoi của cá suối Mộc Châu, khi gọi món này vào lúc 5 giờ chiều mà nhà hàng đã hết veo. Hỏi ra mới hay, trưa nay vừa có vài đoàn khách du lịch tới đây, và cũng như chúng tôi, món đầu tiên họ gọi là cá suối. Lại hẹn nhau một ngày gần nữa lên với cao nguyên này, và hít hà mùi cá suối rán vàng thơm ngây ngất một chiều đông.



Mytour.vn - Nguồn ihay

 

Nếm thử đặc sản khó cưỡng của Đắk Lắk

Gà nướng sa lửa, gỏi lá… là những đặc sản khiến du khách vấn vương sau một lần thăm quan thủ phủ cà phê.

Gà nướng sa lửa
 
 
 
Gà nướng sa lửa là một trong những biến tấu của món gà nướng Bản Đôn. Nguyên liệu chính là những con gà ta chính hiệu cùng cách chế biến nướng trên lửa than. Khách cũng chấm gà với muối ớt hoặc muối sả. Tuy nhiên, gà nướng sa lửa dùng kẹp tre thay vỉ nướng. Bên cạnh đó, gà không được tẩm ướp hay trước khi nướng. Cách nướng này khiến thịt gà thơm hơn, chắc hơn và vẫn giữ nguyên vị ngọt của thịt.
 
Gỏi lá
 

 
 
Với sự hiện diện của hơn 40 loại lá rừng khác nhau, người ta gọi món ăn này là gỏi lá song nếu xét về cách thưởng thức là kẹp đủ các loại lá, bỏ vào đó thịt, tôm, da heo và các gia vị như tiêu nguyên hạt, muối hạt, ớt cay xanh… sau đó chấm với nước dùng, nói món ăn này thuộc họ cuốn chấm sẽ chính xác hơn.
 
Ngoài cái đặc biệt của việc hơn 40 loại lá cây tham gia vào món ăn, nước chấm của gỏi lá được làm từ hèm rượu, được khử qua dầu ăn, lẫn cùng trứng vịt thành loại nước chấm sền sệt. Món ăn có hương vị khá lạ.
 
Lẩu lá rừng
 
 
Gọi là lẩu song lẩu rau rừng giống món canh hơn, với 10 loại lá rừng được chọn lọc nấu cùng tôm khô hoặc thịt các loại.
 
Món "lẩu" lá rừng này được chế biến đầu tiên bởi những người dân tộc Ê đê khi phải đối diện với cuộc sống khó khăn. Để có thức ăn hàng ngày, họ đã vào rừng để hái những loại lá khác nhau về nấu canh. Trải qua thời gian, "lẩu" lá rừng đã trở thành món đặc sản của người dân tộc bản địa và du khách.
 
Thịt nai
 
 
Thịt nai tươi khác thịt bò ở chỗ ít gân, mỡ màu trắng ngà, mềm hơn cả thịt bê non. Nai được chế biến thành nhiều món như nai xào lăn, nai nhúng giấm, nai lúc lắc, sườn nai rán, cháo bao tử…
 
Bạn có thể thưởng thức món thịt nai tại nhà hàng đặc sản tại trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột. Giá cả khá mềm và chất lượng ổn.
 
Rượu cây
 
 
Xét về cách ủ, lên men, rượu cây không khắc biệt với các loại rượu khác của Tây Nguyên. Điểm đặc biệt của loại rượu này là tên gọi xuất phát từ thói quen uống rượu dưới gốc cây cùng tập tục lang thang trong rừng sâu của người Bahnar, Xê Đăng, Jrai... trong tháng Ninh Nơng (tháng sau khi kết thúc mùa rẫy).
 
Dù không phải thật sự là loại rượu đặc sắc, song cái thú nhắm rượu cùng các món thịt rừng nướng nóng hôi hổi trong cái mát mẻ, hoang sơ tại một gốc cây nào đó trong rừng sâu sẽ mang đến cho bạn những trải nghiệm tuyệt vời.

Mytour.vn 

 

Thừa Thiên Huế: Cuốn hút với đặc sản vùng cao A Lưới

(Mytour.vn) - Được thiên nhiên ban tặng cho đồng bào vùng cao A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế với nhiều những sản vật phong phú và món ăn dân dã đã mang lại cho vùng đất nơi đây với nhiều giá trị văn hóa ẩm thực thú vị và hấp dẫn.

Cũng như nhiều cộng đồng cư trú trên dãy Trường Sơn, các tộc người Ka tu, Tà ôi, Pa cô ở A Lưới đã tạo nên đặc trưng trong văn hóa ẩm thực phù hợp với môi trường sống của mình.Những món ăn được chế biến từ ngũ cốc như: xôi hông (adeep ihoat), xôi thui ống, cơm ống/lam (adeep ihoor)… phổ biến trong các lễ hội của người Tà ôi, Katu, Pa cô và là món đồng bào thường dâng cúng thần, đãi khách. Cơm nếp lam (Đooi chot) là món phổ biến nhất của người Pacô. Bà con thường dùng nếp than để chế biến món ăn này. Đây là loại nếp hạt nhỏ, dẻo, mềm…


Trước khi nấu, lấy (nếp) bỏ vào ống nứa đã rửa sạch, rồi đổ nước vào ngập miệng ống, ngâm một đêm cho gạo mềm. Hôm sau, người ta sẽ đổ nước ra, lấy lá chuối bịt miệng ống và đặt trên bếp than. Người nấu ngồi bên bếp lửa cầm ống nứa trở qua trở lại, từ đáy ống dần lên miệng ống. Khi mùi thơm của cơm nếp lan tỏa, ống nứa mềm thì cơm chín tới.

Các món chế biến từ thịt như thịt nướng tươi, nướng khô, nướng trực tiếp hay nướng bằng ống tre, xào, lạp thịt, thịt heo muối chua cũng là sự thú vị bất ngờ với khách miền xuôi. Từ cách chế biến đơn giản: Thịt thái nhỏ, cho vào hũ, ché hoặc ống tre, dùng tiêu rừng, muối gạo rang giã nhỏ, trộn đều lại với nhau rồi ủ kín, gác trên giàn bếp khoảng 7 - 10 ngày. Như vậy, thịt có thể sử dụng trong thời gian dài mà vẫn không mất mùi vị.

Hấp dẫn nhất là món chuột nướng ống (A ật đù i hoor) và ếch nướng ống (A cụt đù i hoor). Chuột rừng hoặc ếch ở hốc núi đá được làm sạch, ướp gia vị cho vào ống tre. Miệng ống được bịt kín bằng lá chuối rồi đem nướng. Hơi nước trong ống tre sẽ làm thịt chín mà không bị khô, cháy. Món ăn này có thể bảo quản bằng cách treo lên gác bếp từ 4-5 tháng mà thịt vẫn tươi ngon.

Các món ăn được chế biến từ cá, như cá gói lá rừng vùi tro, cá nướng, lạp cá, gỏi cá, cá nướng ống, mắm cá (pa đẹec buỏi)... cũng là món ăn ngon của đồng bào vùng cao. Cá suối được ướp với gừng rừng, ớt, chanh rồi xâu vào que tre, nướng đến khi cá có màu vàng, có thể bảo quản trong thời gian dài mà không bị ôi thiu. Khi nào dùng có thể nấu cháo, nấu canh.




Ngoài ra, các loại côn trùng: mối (cláp), con dế (Anút), kiến chua (Aling ca xâu), kiến thơm, (Alinh ca do), kiến đỏ (Kasâu), nhộng ong (Càroi Acon Ghi zớ)... cũng thường hiện diện trong bữa ăn hàng ngày hay trong các dịp tết, lễ, cưới, hội làng.
Đối với các dân tộc thiểu số ở A Lưới, rượu có vai trò quan trọng trong đời sống ẩm thực. Các loại rượu của người Tà ôi, Ka tu và Pa cô rất đa dạng như Ariêu Tà vạc (rượu Tà vạc), Ariêu Par đin (rượu Tà đin), Bhua/a riêu thăn (rượu sắn), Avíeet (rượu mía), Adương (rượu mây), Ariêu Chĩa (rượu dứa)... Các loại rượu này có sự khác nhau về nồng độ, hương vị nhưng đều góp mặt trong bữa ăn thường ngày ở các gia đình cũng như các hội lớn của làng, bản.
Có thể nói, rượu Tà vạc, Tà đin (loại cây mọc trong rừng hoặc được đem về trồng) là đặc sản phổ biến đối với các tộc người ở A Lưới. Cách làm men để chế biến các loại rượu có một vai trò quan trọng trong việc chế biến. Men rượu được làm từ nhiều loại cây như củ riềng (pari), rễ cây ớt (ria pơrớ), rễ cây chè hăng... giã nát, trộn lẫn bột gạo, vo thành viên nhỏ phơi khô.



Mytour.vn (Theo baothuathienhue)

 

Festival trà Thái Nguyên lần thứ hai được diễn ra

(Mytour.vn) - Ngày 22-10, tại Thái Nguyên, BTC Festival Trà Thái Nguyên - Việt Nam lần thứ hai năm 2013 đã họp báo thông báo các hoạt động diễn ra tại festival. Festival trà Thái Nguyên - Việt Nam lần thứ hai năm 2013 sẽ diễn ra từ ngày 9 - 11/11/2013.

 Ông Quản Chí Công (Phó Chủ tịch UBND TP Thái Nguyên) cho biết, thực hiện công tác chuẩn bị cho Festival trà lần thứ 2, UBND TP Thái Nguyên đã phê duyệt 11 dự án về đầu tư, cải tạo, chỉnh trang một số hạng mục công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị.


Một số dự án chính như điều chỉnh hệ thống báo hiệu đảm bảo an toàn giao thông; lắp đặt hệ thống chiếu sáng; sửa chữa sụt lún hạ tầng đường phố; chỉnh trang và trồng mới cây xanh, hoa…

Song song với chỉnh trang đô thị, UBND TP đã yêu cầu các cơ quan hữu quan khắc phục hệ thống cột điện, cáp điện, cáp thông tin gây mất an toàn, mỹ quan đô thị; tiến hành kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm trật tự xây dựng, ATGT, mỹ quan và vệ sinh môi trường đô thị.

Đến nay, đã có 80% khối lượng công trình, dự án được hoàn thành. Với tiến độ khẩn trương thực hiện cho công tác chuẩn bị, TP Thái Nguyên chắc chắn sẽ mang một diện mạo mới góp phần thực hiện thành công Festival trà 2013.

Lễ hội văn hóa trà là một trong những sự kiện trọng tâm của Festival trà. TP Thái Nguyên đã chọn cử 5 làng nghề truyền thống đăng ký với BTC để tham gia lễ hội. Trong thời gian diễn ra Festival sẽ có nhiều đoàn khách tham quan du lịch. Vì vậy, UBND TP đã chỉ đạo Phòng Kinh tế phối hợp với các địa phương nằm trong địa bàn chỉ dẫn địa lý vùng chè đặc sản Tân Cương và bà con nông dân thực hiện công tác chỉnh trang, chăm sóc vườn chè.



 Làng chè truyền thống xóm Cây Thị (xã Phúc Xuân) được chọn là đơn vị tham gia lễ hội văn hóa trà. Hưởng ứng các hoạt động của lễ hội như trưng bày sản phẩm, giới thiệu trà đạo, nghệ thuật pha trà, thi bàn tay vàng (sao chè), búp trà vàng (trà ngon)…, bà con nông dân của xóm Cây Thị đang nô nức chuẩn bị nguyên liệu, luyện tập kỹ năng với mong muốn mang đến lễ hội những sản phẩm trà trứ danh, những tuyệt kỹ của việc chế biến trà.

Ông Đỗ Xuân Ngũ (Trưởng xóm Cây Thị, xã Phúc Xuân) cho biết, nhận được thư mời của BTC Festival và sự chỉ đạo của UBND TP, ông đã tổ chức họp xóm để thông qua chương trình.

Suốt cả tháng qua, người dân trong xóm rất háo hức bàn bạc lo việc chọn lựa được những mẻ chè ngon nhất, đặc biệt nhất mang tham gia lễ hội. Những người được chọn cử tham gia các phần thi thì chăm chỉ luyện tập không chỉ với mục tiêu trở thành những nghệ nhân thực thụ mà chính là nâng cao kỹ năng sản xuất cho mình.

 Cũng là làng nghề sản xuất chè được chọn để tham gia lễ hội văn hóa trà, ông Đỗ Văn Đoàn (Trưởng xóm Hồng Thái 1, xã Tân Cương) cho biết, trong dịp Festival trà năm 2011, rất nhiều đoàn khách tham quan đã đến xóm Hồng Thái 1 để thưởng ngoạn, mạn đàm về nghề chè, nghệ thuật pha trà, thưởng trà.



Festival chính là cơ hội để sản phẩm trà và công việc của người làm chè được ghi nhận, được tôn vinh. Nhận thức được giá trị, ý nghĩa đó, bà con nông dân Hồng Thái 1 đã và đang khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện tốt nhất để giới thiệu với du khách về sản phẩm trà và nghề làm chè của xóm.

Ông Lê Quang Nghìn (Xóm Hồng Thái 2, xã Tân Cương) cho biết, cũng như Festival lần thứ I, nương chè rộng rãi, nằm ngay bên trục đường vào trung tâm xã của gia đình ông đã được chọn là điểm tham quan du lịch và là nơi diễn ra cuộc thi hái chè, sao chè.

Được sự hỗ trợ về kinh phí của UBND TP Thái Nguyên, trong hơn một tháng qua, ông đã thực hiện việc chăm sóc đồi chè theo hướng dẫn của cán bộ chuyên môn. Ngoài hỗ trợ bà con nông dân về kinh phí, về kỹ thuật, Festival là điều kiện để những người làm chè được học hỏi, nâng cao kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất, chế biến chè.

Ông Nghìn tự hào cho biết, với cách thức chăm sóc, chỉnh trang như hiện nay, khi Festival diễn ra thì đồi chè của gia đình ông sẽ là đồi chè hình mẫu, lý tưởng để các tố nữ, các trà nương thỏa sức thể hiện kỹ năng điêu luyện với tán chè, búp chè.



Mytour.vn (Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam)

 

Những điểm đến đẹp ở Bắc Giang

Xương Giang- ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ 15 - là điểm đến đầu tiên của những người đam mê lịch sử hay thích tìm tòi, khám phá kiến trúc.

 

Thành cổ Xương Giang
 
Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ
 

Thành cổ Xương Giang nằm ở xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Năm 1407, giặc Minh cho đắp thành này. Tuy hiện nay thành đặt ở vùng bằng phẳng nhưng ngày xưa, nó là ở vị trí hiểm yếu với hệ thống sông con, đầm lầy, rộc trũng bao quanh. Do địa thế hiểm yếu, nên năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn phải vây đánh 9 tháng mới hạ được thành. Để kỷ niệm chiến thắng lịch sử này, hàng năm tỉnh Bắc Giang tổ chức lễ hội kéo dài trong 2 ngày mùng 6 và mùng 7 tháng giêng.

Do sự tác động của lịch sử, thời gian và con người, ngôi thành hiện không còn nguyên vẹn mà chỉ còn những dấu tích. Từ các dấu tích ấy, có thể nhận thấy thành hình chữ nhật, rộng 27ha, có 4 cửa và được bao quanh bởi hào nước rộng.

Khi đến thành, khám phá từng ngóc ngách, chúng ta sẽ nhận ra những dấu ấn riêng biệt của ngôi thành như tại góc thành Tây Bắc vẫn còn cả tấm bia đá xanh nguyên vẹn, trên trán bia đề các chữ Hán "Xương Giang cổ thành bi ký" (bia ghi về thành cổ Xương Giang)...


Rừng nguyên sinh Khe Rỗ


 
Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ



Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ


Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ
 
 
Cách Hà Nội 120 km về phía đông bắc, rừng nguyên sinh Khe Rỗ thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho vùng Đông Bắc Việt Nam.

Rừng Khe Rỗ có hệ thống động thực vật phong phú và là khu rừng cấm nguyên sinh còn giữ được vẻ hoang sơ thích hợp với những du khách thích khám phá hay nghiên cứu. Đặc biệt, địa danh này sở hữu hai con suối lớn và rất đẹp. Một là suối nước Vàng quanh năm như mật ong, những viên đá nổi lên đủ màu sắc, kích cỡ; một là Khe Đin chảy dài với những đoạn thác cao đến 3, 4 tầng mỗi tầng khoảng 30-40m.

Có hai cách để khám phá Khe Rỗ. Một là xin nghỉ đêm ở trạm kiểm lâm, rồi vào bản, mua gà, rượu, rau, ra suối vừa câu cá, vừa tận hưởng thiên nhiên trong lành, vừa ngắm những tán rừng rậm rập, ghềnh đá vừa khề khà tâm sự. Trekking với những đoạn băng suối, lội đèo, dốc hay nghe mùi ngai ngái của cỏ lẫn trong không khí, tận hưởng bữa cơm nấu vội trong rừng, cái lạnh của núi, sương sớm là phương án thứ hai dành cho các bạn trẻ thích mạo hiểm.


Làng Thổ Hà và đình Thổ Hà

 
Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ


Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ

Làng Thổ Hà



Đình Thổ Hà

Từ Hà Nội theo quốc lộ 1 về hướng Bắc 31 km tới thành phố Bắc Ninh, rẽ trái đi 3 km tới phố Đặng, ngược theo đê sông Cầu 1 km thì tới bến đò Thổ Hà, sang đò là tới làng.

Thổ Hà là tên gọi một làng nghề có ba mặt là sông thuộc xã Vân Hà. Đây là một ngôi làng cổ thuần Việt với cây đa, bến nước, sân đình và những nếp nhà cổ nằm sâu trong các ngõ hẻm. Điểm khác biệt duy nhất so với các làng quê đặc trưng Bắc Bộ là người dân ở đây không sống bằng nghề nông mà sống bằng nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trước 1960 làng nổi tiếng về nghề làm gốm, từ 1990 lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo.

Nếu đến đây vài chục năm trước, du khách sẽ thấy rõ dấu ấn của nghề gốm vang bóng một thời thông qua những bức tường ngõ cổ, bức tường nhà xây toàn bằng những mảnh gốm vỡ hay tiểu sành phế phẩm mà không dùng chút vôi vữa nào, chỉ dùng bùn của sông Cầu để kết dính. Hiện nay các bức tường này đã bị “xi măng hóa”.

Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc. Đình thờ Thân Cảnh Phúc, một vị tướng nhà Lý, có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống, dân tộc Tày, tù trưởng châu Quang Lang (Châu Ôn - Lạng Sơn), được vua Lý gả công chúa và phong chức tri châu.

Đình Thổ Hà là một công trình kiến trúc quy mô trên một khu đất rộng 3.000 m². Đình xây dựng năm 1685 thời vua Lê Chính Hòa năm thứ 7. Đến năm 1807 (Gia Long năm thứ 5) xây dựng tiền tế và hai nhà tả vu, hữu vu. Đình được dựng theo kiểu chữ công với nhiều chi tiết chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động. Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ. Nghệ thuật điêu khắc độc đáo từng được chính quyền Pháp xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương.

Chương trình tham quan của khách khi đến đây là ngắm cảnh trên bến dưới thuyền của dòng sông Cầu, thăm đình làng, chùa, cổng làng, văn chỉ, xem các cây đa cổ thụ, thăm một số nhà cổ trong làng, xem những ngõ xóm hun hút đẹp với vẻ cổ kính, thăm lò sản xuất gốm, thăm các gia đình sản xuất bánh đa nem và mỳ gạo bằng máy và thủ công, thăm các gia đình nấu rượu gạo. Khi về du khách nên mua bánh đa nem, vài cân mỳ gạo, vài lít rượu gạo nếp để làm quà. Nếu du khách thích cảm giác mạnh hãy đến thăm Thổ Hà khi nước sông Cầu ở mức báo động số 3.

Khi du khách đến thăm Thổ Hà có thể đồng thời đến thăm hai địa điểm du lịch nổi tiếng nữa của đất Kinh Bắc, đó là chùa Bổ Đà và đền Bà Chúa Kho. Các địa điểm này chỉ cách nhau từ 3 đến 5 km.


Chùa Đức La
 
Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ


Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ


Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ


Chùa Đức La hay còn có tên chùa Vĩnh Nghiêm, là một trung tâm Phật giáo từ thời Trần thuộc thiền phái Trúc Lâm. Chùa nằm trên một quả đồi thấp, sau lưng là dãy núi Cô Tiên, thuộc xã Trí Yên huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
 
Tương truyền chùa Vĩnh Nghiêm có từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028), tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự. Thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) do có nhiều vị cao tăng tu hành nên chùa được tu tạo nguy nga, tráng lệ. Khi vua Trần Nhân Tông (1258-1308), từ bỏ ngôi vua thành người tu hành đến chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Ngoạ Vân (Yên Tử) thụ giới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập lên phái Thiền tông của Phật giáo Việt Nam. Hương Vân cùng hai đệ tử Pháp Loa, Huyền Quang sáng lập, hoàn chỉnh phái Thiền tông Việt Nam gọi là Tam Tổ.
 
Chùa Vĩnh Nghiêm có quy mô lớn, tọa lạc trên mảnh đất khoảng 1 ha, bao quanh khuôn viên là luỹ tre dày đặc. Chùa được kiến trúc trên một trục, hướng đông nam gồm 4 khối: toà Thiên đường, toà Thượng điện, nhà Tổ đệ nhất, gác chuông, nhà tổ đệ nhị và một số công trình khác. Mở đầu là cổng tam quan xây gạch, sau đó đi vào hơn 100m là bái đường (chùa Hộ).


Khu di tích Suối Mỡ và đền Suối Mỡ
 
Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ







Đền Suối Mỡ
 
Khu di tích suối Mỡ thuộc xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Khu di tích đón du khách với cái thoáng đãng của núi rừng, vẻ thanh bình của con đường uốn lượn men theo dòng suối, những mái nhà ẩn hiện trong tán cây, núi non hùng vĩ. Nếu không thích thong dong trên con đường này, bạn có thể khám phá lối đi khác được tạo ra bởi nhiều vách đá. Vào mùa mưa, những vách đá này thường rất trơn nên chống chỉ định cho du khách.
 
Dù chọn hành trình nào, trên đường đi, du khách sẽ có dịp nghỉ chân tại những ngôi nhà nhỏ, vừa giải khát với ngụm nước vối, thưởng thức những đặc sản địa phương như mít, vải, đu đủ... vừa ngắm nhìn mọi thứ từ trên cao.
 
Ngoài việc thưởng ngoạn phong cảnh, đến suối Mỡ du khách còn như lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh với những ngôi đền, chùa nằm tĩnh tại trên những mỏm núi. Nổi bật nhất là đền Suối Mỡ, bao gồm đền Hạ, Trung, Thượng, nằm dọc theo dòng suối Mỡ chung Thượng Ngàn Thánh Mẫu (công chúa Quế Mỵ Nương đời vua Hùng thứ16). Tương truyền bà là người đã có công mở thác Vực Mỡ đưa nước về cho dân khai hoang trồng trọt, lập làng xóm.

Tại mỗi điểm đến phong cảnh lại có sự thay đổi khác nhau mang đến nhiều trải nghiệm thú vị, đặc biệt nhất là 5 ngọn thác luôn đổ nước trắng xóa. Theo truyền thuyết, đó chính là 5 ngón tay của công chúa Quế Mỵ Nương.
 
Khu du lịch Khuôn Thần

Bắc Giang, làng Thổ Hà, suối Mỡ

Vẻ đẹp thanh bình của hồ...




Từ Bắc Giang đi ngược lên vùng Đông Bắc 40km (phố Chũ) rồi rẽ trái 10km là tới khu du lịch Khuôn Thần thuộc địa phận huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Khu du lịch có 2 điểm nhấn là hồ và rừng Khuôn Thần. Hồ Khuôn Thần rộng 240ha, lòng hồ có 5 đảo nhỏ được trồng thông xanh có tuổi từ 15-20 năm. Hồ thích hợp cho việc dạo chơi trên hồ, câu cá…

Rừng Khuôn Thần rộng khoảng 700ha, trong đó rừng tự nhiên là 300ha, rừng thông 400ha. Xung quanh khu du lịch Khuôn Thần là vườn cây đặc sản: vải Thái Lan, vải thiều, hồng, na… Du khách đến đây có thể cắm trại, thưởng thức mật ong, rượu tắc kè, hạt dẻ… hay tham dự các buổi sinh hoạt văn hóa với dân địa phương.

 

Tìm về chốn bồng lai tiên cảnh ở đèo Long Lanh

Bước chân lên ngọn đồi nằm trên con đường giữa Đà Lạt  Nha Trang, bạn sẽ có có những giây phút ngẩn ngơ ngắm nhìn khung cảnh tuyệt đẹp tưởng như chỉ có trong thế giới thần tiên.

 
Đã qua tháng 3 Tây Nguyên mùa con ong đi lấy mật, những ngày nắng đã qua. Tây Nguyên bây giờ đang dần bước vào mùa mưa. Cao nguyên Lâm Đồng cũng đang ngủ yên trong những cơn mưa rả rích suốt mùa hè.
 
Ở Lạc Dương có một nơi mà tôi gọi là “Nơi đây sương khói mờ nhân ảnh”. Hẳn những người yêu Đà Lạt hay những người bạn xứ Cao Nguyên đều quá quen thuộc với sương sớm của phố núi. Nhưng để ngắm sương long lanh, có lẽ bạn nên một lần đến với đèo Long Lanh thuộc địa phận Lạc Dương, là con đường Hoa Biển nối liền Đà Lạt  Nha Trang.
 
Đèo Long Lanh được dân đi phượt đặt tên là Đèo Omega là do đèo có hình dạng của đồ thị omega. Bạn có biết rằng có những tuyệt tác chỉ để ngắm mà không tấm hình nào có thể lột tả hết vẻ đẹp của nó. Bốn người chúng tôi đã có những giây phút ngẩn ngơ ngắm nhìn và chỉ thốt lên một câu duy nhất "bồng lai tiên cảnh". Những tấm hình trong album này đã không thể thể hiện hết vẻ đẹp của nơi đây. Nếu có dịp, bạn hãy xuất phát từ Đà Lạt vào 4h30 sáng, lên đèo Long Lanh và sẽ cảm nhận được điều mà chúng tôi đã cảm nhận.
Gợi ý cho những ai muốn khám phá cung đường này:
 
Sáng thứ 6 gửi xe máy lên Đà Lạt. Đi vào tối thứ 6 lên xe lúc 22h. Tới bến xe Đà Lạt khoảng 4h30 sáng, lấy xe đi thẳng qua Đèo Long Lanh. Khoảng 5h30 mặt trời bắt đầu lên đẹp, đây là giờ vàng để có những bức hình ưng ý. Lưu ý sau 8h thì sương sẽ tan hết.
 


Đèo có hình dạng của đồ thị omega. Chính vì vậy mà được dân phượt ưu ái cái tên Đèo Omega

.
Những tia nắng đầu tiên của sớm mai.

 




 
Nắng qua từng tán lá của rừng thông.

 
Ngang chừng mây…

 
Bồng lai tiên cảnh là đây.

 
Trong lòng sương…
 
 
 
Màu thiên thanh.

 
Sương che mặt trời.

 
Trên đường ra chợ sớm.