Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Bàn tay tài hoa của làng Sừng

Sau nhiều năm dài mai một, giờ đây nhờ vào sự quan tâm và chính sách mở cửa của đất nước mà làng nghề truyền thống chế tác thủ công mỹ nghệ từ sừng trâu đã được tái hiện như xưa. với những tay nghề vốn có từ lâu, làng nghề ngày càng được khẳng định.

Không vì bị lãng quên sau nhiều năm mà làng nghề mất đi cái vốn có của mình, giờ đây làng nghề đang dần khôi phục lại. Làng Sừng là tên gọi nôm na của làng Thụy Ứng (huyện Thường Tín - Hà Nội). Bước vào làng, du khách ngỡ như lạc vào một thị trấn với những ngôi nhà cao tầng hiện đại, đường đi trải nhựa thẳng tắp. Tuy vậy, những ngôi nhà dọc theo trục đường chính của làng vẫn thể hiện nét đặc trưng truyền thống của làng nghề này, với những cặp sừng bò vươn lên ngạo nghễ, những con rồng, phượng, rùa, khung tranh ảnh, lược và vô số sản phẩm mỹ nghệ khác được trưng bày trong tủ kính. 

 

Tất cả các sản phẩm này đều được làm từ sừng trâu bò. Người làng Sừng có nghề làm sừng từ hơn 400 năm qua. Theo các cụ già ở đây kể lại thì vào khoảng thế kỷ 16, cụ tổ nghề là một người thợ thủ công của làng. Thấy dân nghèo quá, cụ lặn lội phương xa học được nghề làm lược sừng, rồi về truyền dạy lại kỹ thuật cho dân làng. Nhờ có nghề, cuộc sống của người dân trở nên no ấm.

 

 
 Trong giai đoạn từ những năm 1950 đến 1970, nguồn lược sừng chủ yếu cung cấp cho người dân các tỉnh miền bắc đều là sản phẩm của làng Sừng. Thời bao cấp, trâu bò được xem là nguồn sức kéo chủ yếu, giết mổ phải xin phép, nên làng không kiếm đâu ra đủ khối lượng sừng để làm lược. Mãi đến năm 1986, khi đất nước chuyển sang thực hiện chính sách mở cửa kinh tế, trâu bò trở thành hàng hóa, giết mổ tự do, nghề sừng tưởng đã mai một lại dần dần hồi sinh. Dân làng không chỉ quay lại nghề làm lược mà còn sáng tạo ra nhiều sản phẩm mới phù hợp với đời sống hiện đại.

 

 Vốn là nghề phụ, nhưng những sản phẩm từ sừng đã mang lại cho dân làng nguồn thu nhập chính, cao hơn hẳn nguồn thu từ nông nghiệp. Hiện nay làng có gần 800 hộ với hơn 3.000 nhân khẩu. Theo trưởng thôn Nguyễn Tuấn Anh thì làng có đến gần 90% số hộ làm nghề sừng. Anh kể: "Làng nghề được chính thức công nhận vào tháng bảy năm 2008. Và có thể nói, ở làng Sừng chúng tôi, ai nên khôn đều phải qua nghề làm lược".

 Trong ngôi nhà nhỏ bên đường, một ông già vóc người nhỏ thó đang say mê làm tác phẩm Long phượng kỳ duyên cao hơn 1,5m. Ở tuổi 70, bác Nguyễn Văn Kiến hiện là một trong những nghệ nhân giàu kinh nghiệm nhất làng. Bác nổi tiếng với những tác phẩm sừng mỹ nghệ như Tam long hý thủy; Lưỡng long chầu nguyệt... Ðể làm hoàn thiện một con rồng phải qua mấy chục công đoạn, từ cán ép, cưa, mài, đục, uốn... Một số tác phẩm, bác Kiến phải cặm cụi cả tháng mới làm xong, mặc dù vậy giá bán chỉ khoảng hai triệu đồng.

 Bác Kiến làm nghề từ năm 13 tuổi, bắt đầu với việc làm lược sừng. Bước sang tuổi 25, chàng thanh niên ấy chuyển sang làm những sản phẩm mỹ nghệ cao cấp, đòi hỏi sự tinh xảo cao. Bác Kiến bảo: "Làm sừng rất khó, bởi mỗi chiếc sừng đều khác nhau, người thợ phải tùy theo từng chiếc sừng mà hơ, ép, cắt, uốn... Có cái sừng phải uốn cả chục lần, nhưng khó nhất là lúc tạo dáng sản phẩm".

 Hơn 60 năm làm nghề, bác Kiến nay đã là một nghệ nhân bậc thầy, có thể làm tới hơn 80 mẫu sản phẩm khác nhau. Rất nhiều tác phẩm của bác đã được trưng bày tại các hội chợ gần xa và luôn được khách hàng ưa chuộng. Bác đã truyền những bí quyết của nghề cho các con cháu. Chính sự tỉ mỉ, đi sâu vào các chi tiết tinh xảo mà bác đã góp phần tạo nên nét độc đáo riêng cho sản phẩm làng nghề. "Tôi sẽ còn theo nghề tổ này cho đến lúc không còn sức nữa mới thôi"- Bác tâm sự.

Trong khi những nghệ nhân lão thành như bác Kiến say mê với các tác phẩm mỹ nghệ cao cấp, lớp trẻ trong làng chuyển hướng sang sản xuất hàng tiêu dùng với quy mô lớn. Anh Trần Văn Thùy, 39 tuổi, là chủ một xưởng làm sừng với mười sáu lao động. Hằng ngày, họ cần mẫn làm từ bảy giờ sáng tới năm giờ chiều. Anh Thùy cho biết: "Tất cả các bộ phận của con trâu từ sừng, da, móng đều có thể sử dụng được, thậm chí lông đuôi trâu dùng để chế bàn chải". Giới thiệu về các công đoạn chế tác sản phẩm từ sừng trâu, anh cho hay: Ðầu tiên người thợ rút cái lõi cứng trong sừng trâu ra, sau đó họ hơ lửa hoặc luộc sừng trong dầu để làm mềm. Họ dùng máy ép thủy lực ép sừng cho bẹp ra, rồi cắt thành những mảnh nhỏ gọi là phôi. Từ phôi họ chế tác ra lược, thìa, bát đĩa, móc khóa, trâm cài tóc và các sản phẩm khác. Các sản phẩm thô này được đánh bóng và sẽ có mầu đen bóng tự nhiên ở cuối công đoạn. Sừng bò cũng được chế biến tương tự sừng trâu, nhưng với mầu vàng đặc trưng. Sừng bò chủ yếu được dùng làm sản phẩm mỹ nghệ. Giá cả sản phẩm cũng đa dạng, từ thứ rẻ nhất như cái lược 5.000 đồng, đến một bộ đầu bò châu Phi đã qua xử lý được bán với giá bảy triệu đồng (khoảng 416 USD).

Anh Thùy đã đầu tư hơn 50 triệu đồng mua sắm máy móc. Hiện mỗi người thợ của anh có thu nhập từ 1,2 đến 2 triệu đồng/tháng. Anh kể: "Do làng Sừng là đầu mối, nên dân làng đi khắp các tỉnh thành trong cả nước mua sừng, xương, da trâu bò về đây. Mỗi ngày làng nhập vào khoảng 50 tấn sừng, xương và da trâu bò. Sau khi sơ chế, một phần sừng và xương được bán cho các làng nghề thủ công khác, như làng nghề tiện Nhị Khê ở gần đây, và một làng chế tác sừng ở Nam Ðịnh".

Các sản phẩm của làng nghề sừng Thụy Ứng hiện được bán khắp nơi trong nước, nhất là trong các siêu thị, các cửa hàng mỹ nghệ lưu niệm tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Ðặc biệt, các mặt hàng này hiện đang có thế mạnh trong xuất khẩu sang các nước Trung Quốc, Thái-lan, Anh, Mỹ... và là sản phẩm du lịch độc đáo của Việt Nam. Hiện nay, sản phẩm nổi tiếng nhất của làng Sừng là những bộ đầu bò châu Phi với cặp sừng vút cong ngạo nghễ, rất được khách hàng châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc... ưa chuộng, do được chế tác hoàn toàn thủ công. Các nghệ nhân làng Sừng đã chinh phục được thị trường Trung Quốc, hằng năm xuất khẩu lược sừng và nhiều sản phẩm khác với số lượng lớn. Khách phương Tây cũng thường đến đây đặt hàng. Ðể chinh phục những thị trường hiện đại và khó tính này, người làng Sừng đã dựng mẫu trên máy vi tính. Những nỗ lực của họ đã được đền đáp. Anh Thùy cho biết: "Có nhiều khách phương Tây đến đặt làm một sản phẩm đơn chiếc như mặt khóa thắt lưng hay báng súng săn... Tất cả các nguyện vọng đó đều được đáp ứng, bởi chúng tôi luôn nghĩ rằng mình phải làm sao để thế giới biết về sản phẩm làng nghề và đôi bàn tay tài hoa của người thợ Việt Nam".

 

Người Dao Đỏ - Giấy bản nét đẹp của vùng quê

Dân tộc Dao cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam. Cụ thể, đa phần tại các tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Hòa Bình... Ở đây họ có những nét văn hóa riêng, đặc sắc và hấp dẫn. Có một nét văn hóa đáng chú ý của người Dao Đỏ là "Giấy bản" văn hóa đã lâu đời của dân tộc này.

Ai đã từng được nhìn thấy tờ giấy bản chưa? có lẽ người trên vùng Lào Cai sẽ hiểu hơn cả, nhưng nếu bạn muốn biết hãy đến nơi đây để ngắm nhìn và cảm nhận nhé! 

Tác dụng của giấy bản:

Được coi là loại giấy mang nhiều sắc thai tâm linh, bởi chỉ loại giấy này mới được để cúng lễ, nhất là các dịp Tết và đầu năm. Chính vì vậy mà loại giấy này cần được làm cẩn thận và chu đáo chứ không thể như các loại giấy khác


Đây là loại giấy độc đáo do chính bàn tay người Dao đỏ làm ra, có nguồn gốc từ rất lâu đời và công nghệ sản xuất được lưu giữ qua nhiều thế hệ như một nghề truyền thống. 


"Tôi vẫn nhớ ngày còn nhỏ mỗi lần đến Tết là mẹ tôi lại đi mua giấy về dán lên bàn thờ, gấp vàng hương và trang trí quanh nhà theo tục lệ của người dân tộc. Loại giấy đó rất đặc biệt, không trắng như giấy công nghiệp nhưng dai bền và thoang thoảng mùi thơm cây rừng," ông Bàn Văn Thanh, thôn Nậm Tha, xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn, Lào Cai tâm sự.


Không giống như giấy dó của người Kinh, người Dao đỏ ở Văn Bàn làm giấy bản từ những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên. Loại cây được sử dụng để làm giấy nhiều nhất là cây vầu hoặc rơm nếp sau mùa thu hoạch. Dụng cụ cơ bản là một cái khuôn tráng giấy làm bằng vải, có nhiều kích cỡ khác nhau (thường là 60cmx120cm), một nồi nấu chất liệu giấy và một chậu đựng nước pha bột giấy...


 


Khi cây vầu cao chừng 3 mét, người ta chặt về, loại bỏ lá, cành rồi cắt thành từng đoạn ngắn đem luộc mềm. Vầu hoặc rơm đã luộc được ngâm với vôi và tro bếp khoảng mười ngày cho nhuyễn hẳn, rồi dùng cối để giã thành bột, khi đó sẽ được một loại dung dịch sóng sánh màu vàng xanh. Người Dao đỏ lấy dung dịch này tráng thật mỏng trên khuôn vải giống như tráng bánh cuốn, phơi khô rồi bóc ra là được tấm giấy bản đầu tiên. Việc làm giấy chủ yếu do người phụ nữ Dao đảm nhiệm.

Để có những tờ giấy bản vuông vắn, công đoạn cuối cùng là xếp các tấm giấy thành lớp, gấp vào, dùng thanh nứa mảnh rọc theo khổ 10x20cm hoặc 20x30cm, sau đó chạm hoa văn nổi bằng một dụng cụ kim loại.

Mỗi tờ giấy bản cầm lên mỏng tang, sắc vàng, độ xốp cao, dai mịn, soi ra ngoài ánh nắng thấy rõ những sợi tơ và phảng phất hương thơm của cây rừng.

Được làm từ bàn tay khéo léo của người Dao đỏ, theo những bí quyết riêng, giấy bản là loại giấy tuy mỏng, nhưng dai và bền hơn giấy sản xuất công nghiệp. Nếu được bảo quản ở nơi khô ráo, giấy bản có thể để vài chục năm vẫn sử dụng tốt. Bởi thế, loại giấy này phổ biến và được ưa thích không chỉ trong cộng đồng người Dao.


 


Giấy bản thường được sử dụng trong các nghi lễ truyền thống của người Dao đỏ, như lễ Tết, cúng cầu mùa… Mỗi gia đình người Dao có một góc thờ, chỉ dán tờ giấy lên vách phía sau đối diện với cửa chính để đánh dấu.

Cũng giống như người Kinh đốt vàng mã trong ngày lễ, người Dao đỏ cũng đốt giấy bản theo quan niệm tâm linh.

Ngoài ra, giấy bản còn được đóng thành quyển để viết chữ. Trong mỗi gia đình người Dao đỏ ở Văn Bàn nói riêng và Lào Cai nói chung đều lưu giữ một, hai cuốn sách chữ nho viết bằng mực màu trên giấy bản. Trải qua bao thế hệ, có cuốn bìa đã rách nát mà nét chữ vẫn không phai màu mực. Chính sự cẩn trọng, giữ gìn, và lòng thành kính khi sử dụng giấy bản đã cho thấy giá trị tôn nghiêm của loại giấy này trong đời sống văn hóa phong tục của người Dao đỏ.

Nghề làm giấy bản của người Dao ở Lào Cai tuy không phát triển thành một làng nghề truyền thống, nhưng đã lặng lẽ tồn tại như một minh chứng cho bàn tay tài hoa và những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc Dao đỏ ở đây.

Ngày nay, gia đình người Dao đỏ nào ở Lào Cai cũng biết cách làm và tự làm được giấy bản để sử dụng vì sản phẩm giấy đã đi vào đời sống tâm linh, là sự gắn kết giữa người sống với tổ tiên và nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn. Dây là nét đẹp của người Dao Đỏ.

 

Bình Dương làng nghề truyền thống Sơn Mài

 

Sơn mài được coi là một trong các chất liệu hội họa ở Việt Nam. Đây là sự tìm tòi và phát triển kỹ thuật của nghề sơn (nghề sơn ta) thủ công truyền thống của Việt Nam thành kỹ thuật sơn mài độc đáo có một không hai. Và làng nghề truyền thống là sơn mài Bình Dương.

Mang đậm bản sắc dân tộc, làng nghề truyền thống sơn mài luôn cố gắng giữ gìn bản sắc dân tộc, giúp trong gia đình bạn hấp dẫn hơn và đẹp hơn với những bức tranh sơn mài nghệ thuật.
Bình Dương, trong tiến trình phát triển vùng đất mang đậm nét văn hoá làng nghề thủ công truyền thống. Sơn mài là một trong những làng nghề nổi tiếng, đã định vị trên địa bàn hơn 300 năm. Từ lối chế tác cha truyền con nối, các lớp nghệ nhân luôn dày công gởi cả tâm huyết để dần hoàn thiện thành tác phẩm sơn mài nghệ thuật lừng danh, với vẽ đẹp lộng lẫy và sâu lắng.

Làng Tương Bình Hiệp – chiếc nôi nghề sơn mài Bình Dương Các nghề thủ công truyền thống sơn mài, chạm khắc, đồ mộc đã có từ rất sớm và phát triển mạnh ở đất Thủ – Bình Dương, vùng được định hình và phát triển nghề chủ yếu ở thị xã Thủ Dầu Một (Chánh Nghĩa, Phú Cường, Tương Bình Hiệp, Tân An, Định Hòa). Chiếc nôi nghề sơn mài Bình Dương là làng Tương Bình Hiệp.

Sơn mài Bình Dương nổi tiếng được khách hàng ưa chuộng, bởi từ nguyên liệu gỗ đến khâu cuối cùng của sản phẩm phải trải qua quá trình 25 công đoạn, mỗi công đoạn đòi hỏi một nghệ thuật riêng tỷ mỉ và công phu. Một qui trình sơn mỗi sản phẩm phải mất từ 3 đến 6 tháng mới đảm bảo yêu cầu chất lượng.

 Năm 1975 đến nay, sau nhiều biến đổi, ngành sơn mài ổn định và phát triển. Sơn mài cổ điển vẫn được ưa chuộng, thêm vào đó hàng loạt các mẫu mã hiện đại, phù hợp với yêu cầu cơ chế thị hiếu mới.


 

 


Trải qua nhiều thế hệ, sơn mài trên vùng đất Bình Dương vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, đó là sự tinh xảo, nhẹ nhàng thanh thoát, đậm đà tính cách Á đông. Ngày nay, các cơ sở tại làng sơn mài Tương Bình Hiệp có khả năng sản xuất khá đa dạng các sản phẩm sơn mài, từ những bức tranh nghệ thuật đến các loại tủ, bàn ghế… Bên cạnh các loại tranh sơn mài, còn có các sản phẩm sơn mài để sử dụng và trang trí như: bình, lọ, dĩa, vòng tay, hộp… Sản phẩm sơn mài nói chung có rất nhiều phương pháp thể hiện như: sơn mài sơn lộng, sơn mài vẽ mỏng, sơn mài khoét trũng, sơn mài đắp nổi, sơn mài cẩn trứng, sơn mài cẩn xà cừ, cẩn ốc… sự đa dạng về sản phẩm, về sự kết hợp sơn mài với các chất liệu khác như gốm, tre... có nhiều xưởng sản xuất, xuất khẩu hàng sơn mài như các xí nghiệp Thành Lễ, Đồng Tâm, Hùng Hương…


 

 


Với bề dày truyền thống và lịch sử phát triển vùng đất hơn 300 năm, nghề sơn mài trên đất Bình Dương vẫn giữ vững đậm đà bản sắc dân tộc. Ngày nay, sự phát triển về khoa học công nghệ, nghề sơn mài với sự kế thừa truyền thống kết hợp với hiện đại đã góp phần tạo nên tính đa dạng mẫu mã, phong phú về chất liệu… Sơn mài đã và đang là nguồn cảm hứng thẫm mỹ của các thế hệ nghệ nhân tài hoa, là tiếng nói nghệ thuật mang tính nhân bản cho bạn bè trong nước và thế giới hiểu thêm về bản sắc độc đáo của văn hóa dân gian Việt Nam.

Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp không những là niềm tự hào của bao thế hệ nơi đây, mà còn là một nét văn hóa truyền thống đặc trưng của vùng đất đáng trân trọng. Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, các cấp các ngành, cùng với sự đồng lòng của nghệ nhân, người thợ, doanh nghiệp yêu nghề. Ngày 29/8/2006, Hiệp hội Sơn mài – Điêu khắc Bình Dương được thành lập tại Quyết định số: 3838/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương. Hiệp hội sẽ là cầu nối quan trọng, góp phần gìn giữ và phát huy thế mạnh nghề truyền thống sơn mài ở Bình Dương.

"Danh từ sơn mài (laque) là một danh từ mới đặt sau này để chỉ một kỹ thuật trước kia gọi là Sơn Ta nhưng đã biến hoá hẳn do nghệ thuật mài sơn. Kỹ thuật Sơn Ta cũng tương tự như sơn Tàu, có từ đời nhà Hán. Sử dụng cùng với Sơn Ta một nguyên liệu là sơn sống. Chất sơn sống này, ở nước ta, miền Phú Thọ sản xuất rất nhiều và vẫn bán sang Tàu cùng Nhật. Từ năm 1931 trở về trước, công dụng Sơn Ta cũng như Sơn Tàu ở Tàu và Sơn Nhật ở Nhật là phủ lên đồ vật làm nó tôn vẻ lộng lẫy, lên những vật dùng thường như cái khay, cái tráp, đôi guốc, đồ thờ như hương án dài, bát đĩa, đồ trang trí như câu đối, hoành phi, bình phong... màu sắc đại để có: son, đen, nâu, cánh gián, vàng, bạc theo cổ truyền. Nói rõ ra, Sơn Ta chỉ có công dụng trang trí, địa vị là ở trong trang trí. Mặc dầu ở Nhật, nghệ thuật sơn có tế nhị hơn cả, nhưng chưa một nước nào nghĩ đến tìm tòi, sử dụng nguyên liệu sơn một cách khác cổ truyền, phiêu lưu trong nghệ thuật sơn để tìm một con đường nào tăng phẩm giá mỹ thuật sơn bằng cách phát minh thêm khả năng của nó.

Song, từ 1931 trở đi, nhờ sự tìm tòi thiết tha của một số họa sĩ có tài bỏ sơn dầu để chuyển hẳn về sơn mài, Sơn Ta đã vượt được ra ngoài nơi cầm hãm, ngang nhiên trên đường bao la của hội họa, cứ phương trời xa lạ mà tiến. Từ cái tráp, chiếc guốc, nó vượt lên bức họa lồng khung quý giá, từ một phương tiện phụ thuộc làm tôn vẽ đồ vật, nó trở nên một phương tiện độc đáo diễn đạt nổi tâm hồn người nghệ sĩ, một phương tiện lấn át cả sơn dầu. Quên dĩ vãng Sơn Ta đổi tên nhũn nhặn là Sơn Mài"
 - Tô Ngọc Vân

 

Sóc Trăng: Phát triển sản phẩm du lịch làng nghề

 

Sóc Trăng là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long thuộc Việt Nam, nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 231 km, cách Cần Thơ 62 km. Tỉnh Sóc Trăng nằm ở hạ nguồn của sông Hậu, là nơi sông Hậu đổ vào biển Đông tại hai cửa Định An và Trần Đề, với dân số và diện tích điều đứng thứ 6 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Ai mỗi lần đến với Sóc Trăng hẳn cũng sẽ cảm nhận được sự yêu mến, gắn bó và lưu luyến bởi vùng đất trừu phú, giàu tình người đang ngày càng phát triển, đậm đà không khí vui tươi và sự sung túc. Sóc Trăng hiền hoà, bao dung dang cánh tay rộng mở chở che cho cả 03 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa cùng sinh sống, thế nên Sóc Trăng có được những nét văn hóa độc đáo, riêng biệt và những sản vật làm say đắm lòng người.

Cứ mỗi dịp về Sóc Trăng du khách lại được hòa mình vào không khí hào hứng, sôi nổi của Hội đua ghe Ngo truyền thống của đồng bào Khmer hay tĩnh lặng nhìn ngắm những ngôi chùa cổ kính nổi tiếng như: Chùa Dơi, Chùa Đất Sét, Chùa Sà Lôn…

 

 


Sau chuyến tham quan, du khách có thể tự thưởng cho mình một tô bún nước lèo đậm đà, ăn một lần là vẫn còn dư âm mãi. Rồi trong hành trang trở về, du khách không thể nào quên mang theo một chút gì gọi là hương vị của Sóc Trăng để làm quà cho người thân, bạn bè. Để đáp ứng nhu cầu thiết thực của du khách gần xa, tỉnh Sóc Trăng cũng đang đẩy mạnh phát triển sản phẩm du lịch từ các làng nghề truyền thống. Đây được xem là một vấn đề đang được đầu tư khai thác nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho các địa phương, góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị cao đẹp của từng sản phẩm. Theo quyết định số 71 của UBND tỉnh Sóc Trăng, ngày 29/02/2008, toàn tỉnh có 12 làng nghề truyền thống, trong đó có 03 làng nghề, sản phẩm được đưa vào phục vụ phát triển du lịch như Làng nghề Bánh Pía - Lạp Xưởng, Làng nghề Đan đát, Làng nghề Cốm dẹp. Mỗi làng nghề truyền thống đều có giá trị riêng với những sản phẩm đặc trưng tạo sự cuốn hút cho du khách gần xa.

Nói tới đặc sản Bánh Pía – Lạp Xưởng phía Nam là nói tới Sóc Trăng, và ở Sóc Trăng thì Làng nghề Bánh Pía, Lạp Xưởng Vũng Thơm tại xã Phú Tân, huyện Châu Thành được xem là chiếc nôi nổi tiếng lâu đời về nghề này. Bánh Pía là loại bánh dân dã rất độc đáo, với lớp bột trắng tinh mỏng nhiều lớp như giấy bao bọc phần nhân bánh ngọt thanh với hương vị sầu riêng thơm lừng, nhâm nhi cùng ly trà nóng thì thật tuyệt vời. Ngày nay, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của du khách, bánh còn có nhân khoai môn, đậu xanh, bánh pía thập cẩm nhân thịt heo, bánh chay, bánh pía ít đường,… với nhiều mẫu mã đẹp và bắt mắt. Nếu bánh Pía là món ăn có thể dùng được ngay khi mua về, thì lạp xưởng lại là món ăn cần được chế biến sơ trước khi dùng. 


Chỉ cần chiên, nướng, hấp rồi thái mỏng là đã có một món lạp xưởng màu nâu đỏ thơm ngon có thể ăn kèm với cơm trắng. Để cho làng nghề bánh Pía vươn xa thế giới cũng như tạo điều kiện cho thương hiệu Bánh Pía – Lạp xưởng ngày càng có uy tín, câu lạc bộ Bánh Pía – Lạp xưởng Sóc Trăng được thành lập hiện có khoảng 30 thành viên, hầu hết đã qua đào tạo lớp quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP do Sở Công thương tỉnh tổ chức, giúp cho các thành viên nhận thức được tầm quan trọng trong việc quản lý chất lượng sản phẩm giữ uy tín và thương hiệu cho tỉnh. Đến nay, tỉnh đã có nhiều thương hiệu nổi tiếng gần xa chuyên sản xuất bánh Pía – lạp xưởng như Tân Huê Viên, Mỹ Trân, Quảng Trân, Công Lập Thành, Tân Hưng,…..trong đó, Tân Huê Viên và Công Lập Thành là 02 doanh nghiệp được công nhận là điểm bán hàng đạt chuẩn phục vụ khách du lịch. Đặc biệt, Công ty TNHH Chế biến Thực phẩm Bánh pía – Lạp xưởng Tân Huê Viên đã sử dụng máy móc và dây chuyền hiện đại để sản xuất sản phẩm. Khi đến cơ sở này, du khách có thể được hướng dẫn tham quan xưởng sản xuất cũng như dùng thử hương vị của các loại bánh. Sản phẩm bánh Pía – Lạp xưởng của Sóc Trăng không chỉ nổi tiếng trong nước mà đang vươn xa trên thị trường thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Campuchia…         

Tiếp theo phải kể đến là làng nghề đan đát ấp Phước Quới, xã Phú Tân huyện Châu Thành, cách thành phố Sóc Trăng hơn 10km. Đến đây, du khách có thể tham quan cơ sở đan đát tre nứa để tìm hiểu thêm về nghệ thuật đan đát của bà con Khmer. Với đôi bàn tay khéo léo, tinh tế của người dân nơi đây đã tạo ra những sản phẩm rất phong phú và đa dạng chủng loại như cái rổ, thúng, xà ngom, bội nhốt gà, xà neng, cần xé nhỏ,… và nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác như chiếc ghe ngo nhỏ, khay đựng trầu, rổ nhỏ… Bằng nguyên liệu chủ yếu là tre, trúc, từ bàn tay con người đã tạo nên những sản phẩm ngộ nghĩnh vừa sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày đến các vật trang trí làm quà cho du khách. Người dân ấp Phước Qưới luôn không ngừng học tập nâng cao tay nghề và sáng tạo nhiều mẫu mã đẹp mới lạ vừa phát huy nghề truyền thống của ông cha, vừa góp phần phục vụ khách hàng, góp thêm thu nhập cho gia đình. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đầu tư kinh phí xây dựng mở rộng cơ sở, có phòng thực hành, nhà kho, nhà trưng bày, cổng rào, đồng thời thành lập hợp tác xã (HTX) làng nghề  vào năm 2006 với 126 hộ thành viên đều là người Khmer, vốn gắn bó lâu đời với nghề đan đát. Hợp tác xã đang phát huy hiệu quả cao giúp làng nghề Phú Tân cất cánh. Hiện nay, làng nghề Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đang xây dựng kế hoạch phát triển các sản phẩm mỹ nghệ của làng phục vụ du khách về tham quan, mua hàng lưu niệm.

Từ xưa nghề giã cốm dẹp ở Sóc Trăng đã là một nghề truyền thống của nhiều làng có người Khmer, nhất là làng nghề Cốm dẹp xã Phú Tân, huyện Châu Thành gần như cung cấp quanh năm cho khách hàng loại thức ăn đặc trưng này. Cốm dẹp được giã từ loại lúa nếp vừa đỏ đuôi. Cốm mới giã khá giòn và dẻo ăn rất thơm mùi nếp mới. Nhưng muốn ăn ngon hơn người ta phải trộn cốm dẹp với dừa rám, ít nước dừa và đường cát trắng. Trung bình khoảng 1kg cốm dẹp thì dùng một trái dừa rám đã nạo, nước dừa và ½ kg đường. Dùng một cái thau rộng bỏ cốm dẹp, đường và rưới nước dừa vào để khoảng 30 phút cho nước dừa và đường thấm đều vào cốm hơi mềm là dùng được. Khi ăn bỏ thêm một ít dừa nạo, đậu phộng rang giã nhuyễn hoặc mè sẽ tăng thêm phần hấp dẫn và độ béo.

Ngày nay, dù đã qua nhiều biến động và đổi thay kinh tế, nhưng vẫn còn nhiều làng nghề truyền thống vẫn đang tồn tại và phát triển trở thành sản phẩm du lịch cho du khách mỗi khi về vùng đất Sóc Trăng. Để phát huy hơn nữa những tiềm năng vốn có của từng địa phương, tỉnh đã quy hoạch và định hướng phát triển làng nghề truyền thống theo cơ chế thị trường, bảo đảm phát triển bền vững, giữ gìn tốt vệ sinh môi trường sinh thái, phát triển làng nghề gắn với du lịch, văn hóa địa phương.

Trong quá trình hội nhập và phát triển như hiện nay, làng nghề truyền thống đã và đang được chú trọng đầu tư nhằm giữ gìn và bảo tồn giá trị văn hóa của mỗi dân tộc. Phát triển du lịch phải gắn với việc phát triển sản phẩm của các làng nghề truyền thống để có những sản phẩm hấp dẫn, đặc trưng mà mỗi khi du khách đến Sóc Trăng sẽ phải tìm mua về làm quà sau mỗi chuyến đi

 

Sức hấp dấn món bánh giò Hà Nội

(Mytour.vn) - Bánh giò là một loại bánh được làm bằng bột tẻ lọc, thịt nạc vai dùng chế biến nhân có kèm mộc nhĩ, hành khô, hạt tiêu, nước mắm, muối... Bánh giò có hình dài nhô cao như hình bàn tay úp khum khum với các ngón tay sát nhau, gói bằng lá chuối. Bánh này được luộc từ 45 đến 60 phút.

Bánh thường được xuất hiện khá nhiều ở Hà Nội, nhất là vào các buổi sáng, những hàng quán bánh bánh giò khá nhiều, bánh giò được làm bằng gạo tẻ nên khi ăn sẽ không có cảm giác bị chán ngấy, bởi những hương vị đặc trưng và mùi thơm khi bánh còn nóng, khi chiếc bánh còn nóng mùi bánh lan toả ra xung quanh sẽ làm cho những người xung quanh sẽ không thể kiềm chế được bởi mùi thơm của nó.

Bánh giò là loại bánh truyền thống của người Hà Nội, là thứ bánh ăn chơi, được làm bằng bột tẻ và thường ăn khi còn nóng. Không như các loại bánh khác, bánh giò chỉ có hình dạng nhất định, đó là bánh có hình chóp và nhất thiết chỉ được gói bằng lá chuối, nguyên liệu đơn giản với bột gạo, thịt lợn và mộc nhĩ (nấm mèo).

 

 

 

Gạo làm bánh là gạo tẻ không khô, không dẻo, được ngâm rồi đem đi xay để làm vỏ bánh. Với bánh giò thì công đoạn khuấy bột và đánh bột là rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng của chiếc bánh. Thường mỗi người làm bánh sẽ có một bí quyết khác nhau, nhưng như thế nào đi nữa thì cũng có thể nhận thấy rằng để có được một chiếc bánh giò thơm ngon là không hề đơn giản.
Bánh được gói ngay khi bột còn nóng, như vậy lúc hấp lên, bánh sẽ mềm, thơm và chín đều. Ngoài gạo để làm bánh thì nhân bánh cũng rất quan trọng, phải chọn thịt nạc vai, có như vậy, bánh mới tỏa ra mùi thơm của thịt, ăn vào có vị ngọt của nạc và một ít mộc nhĩ hành khô băm nhỏ, hạt tiêu… và nêm gia vị vừa ăn. Tất cả các nguyên liệu đó đều được làm chín tái trước khi gói, tránh tình trạng nhân bánh còn sống khi hấp.
Muốn có bánh ngon người làm bánh cũng khá là mất nhiều công đoạn và kiểm gạo, cũng như các loại nhân bên trong đều phải kỹ lưỡng, chiếc lá được gói bánh cũng cần phải tuyện chọn, nếu không sẽ dễ bị rách và sẽ làm chiếc bánh không còn ngon.
Lá gói là lá chuối tây, không phải lá chuối hột hay chuối tiêu, chọn những chiếc lá còn tươi, rửa thật sạch và lau khô, sau đó đổ một ít bột bánh lên lá, tiếp đến nhân và thêm một lớp bột bánh phía trên cùng nữa. Cách gói này cũng khá giống như các cách gói của các loại bánh khác, khi gói phải thật khéo léo, để cho ra đời những chiếc bánh bằng nhau tăm tắp, không cần buộc dây mà vỏ không bị xổ ra cũng như không bị vô nước khi luộc.
Để bánh chín mềm, thơm, có vị trong của gạo tẻ thì khi xếp bánh vào nồi, phải đổ nước xấp mặt bánh, lửa cháy đều, không to quá, mà cũng không nhỏ quá. Khi nào thấy nồi bánh có mùi thơm tỏa ra, lá chuối đã ngả màu xanh sẫm là bánh đã chín.

 

 

 


Chiếc bánh giò lúc nào cũng nóng hôi hổi. Vỏ bánh mềm, dẻo và không bị nát, đặc biệt là thơm dịu mùi bột gạo đầy cuốn hút. Nhân bánh tuy ít nhưng cũng đủ để chiếc bánh đậm đà hơn hẳn, cái hay của bánh giò so với các loại bánh khác là không cần gia vị như nước mắm, ớt… vì bản thân của bánh đã mang đủ gia vị cho nó rồi. Chiếc bánh giò bé xinh xinh, nhưng ăn xong một chiếc thôi cũng đủ để bạn thấy ấm bụng, ngon miệng, ăn một chiếc lại muốn ăn thêm chiếc nữa.

Không như ở Hà Nội thường có các hàng bánh giò để người ăn có thể ngồi nhâm nhi thưởng thức, bánh giò ở Sài Gòn không có một hàng quán nào hết, nó theo chân những người bán dạo đi khắp cùng các con hẻm hay trong các xóm trọ nghèo. Khách hàng thường là sinh viên, công nhân đi làm về khuya, cũng có khi là một gia đình gốc Bắc nào đó thèm chút hương vị quê nhà.

Thật thú vị khi đưa từng miếng bánh lên miệng ăn và cảm nhận mùi vị đặc trưng của bánh. Chỉ ăn một lần mà mùi vị đó sẽ còn in sâu trong trí nhớ của t
hực khách.

 

Nguồn:Mytour.vn

 

Thú vị món bánh gối ngày se lạnh

(Mytour.vn) - Vào những hôm trời trở gió được thưởng thức món bánh gối nóng hổi quả là rất tuyệt, món ăn mang đậm chất của ngày se lạnh, được cùng bạn bè đi chơi rồi cùng ghé qua hàng bánh gối sẽ giúp bạn thêm ấm lòng và ấn tượng không thể quên.

Có lẽ chẳng mấy ai, nhất là người Hà Nội, là không biết đến bánh gối, thứ bánh đường phố rất ngon mà dân dã này. Ở Hà Nội, nổi tiếng từ xưa thì có bánh gối Lý Quốc Sư là ngon nhất.Bánh gối là thứ quà không thể thiếu của những tín đồ ăn vặt, góp phần làm nên thương hiệu “thiên đường ẩm thực vỉa hè” của  Nội.

  

 


Khi cái rét Nàng Bân se se lạnh, mưa lất phất, hàng bánh gối nép bên góc phố nhỏ thật dễ dàng níu bước chân bạn, dù đã quá bữa hay gần khuya. Hàng chưa đông, nghe rõ tiếng dầu sôi lách tách, hít hà mùi thơm từ chỗ người bán hàng đưa qua thơm nức mũi. 
 Bánh chưa được đưa ra, chỉ mới ngắm đĩa rau sống xanh ngắt, bát nước chấm có đu đủ xanh, su hào, cà rốt từng miếng vuông vức, hòa thêm màu đỏ của tương ớt, bạn đã thấy “ứa nước miếng”.

Cắn một miếng bánh vỏ giòn rụm, mỏng vừa đủ, thấy miến dai dai, mộc nhĩ giòn giòn, cà rốt rau giá hăng hăng, nấm hương thơm bùi, trứng cút cùng thịt băm ngầy ngậy, thấm đẫm trong thứ nước mắm chua cay mặn ngọt thật đúng vị.

 

 

 


Tuyệt nhất là tất cả đều nóng hôi hổi, vừa thổi vừa ăn, vừa ăn lại vừa xuýt xoa. Ăn một chiếc vẫn thấy chưa đã, ăn nhiều lại dễ ngấy, bánh gối có lẽ là thứ quà chỉ nên ăn “thòm thèm”. 
 Bánh gối không quá khó để tự làm ở nhà, nhưng có lẽ người ta thích được ra đường, ngồi ăn cùng nhau và tán đủ mọi chuyện hơn. Lý Quốc Sư, Lê Đại Hành, Lương Văn Can... đều là những con phố gắn với “thương hiệu” bánh gối tiếng tăm.

Ngoài bánh gối, bạn đừng quên chọn thêm bánh tôm, bánh rán mặn, ngọt hay nem cua bể cho tròn vị từ ẩm thực đường phố Hà Nội.Thật thú vị và hấp dẫn với bánh gối. Nước chấm cũng là một trong những yếu tố quyết định vị ngon, thơm của nó.

 

(Nguồn: Mytour.vn)

 

Đã từng có thời Hà Nội có Hàng Khảm

 

Theo những nghiên cứu và sử sách để lại thì được biết ngày xưa Hà Nội có tên phố là phố Hàng Khảm. Theo một công trình nghiên cứu của Giám đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương André Masson, vào khoảng năm 1820, Hà Nội đã có tên phố Hàng Khảm (Rue des Incrusteurs), tại đó có nhiều nhà vừa sản xuất vừa bán hàng khảm xà cừ, khảm trai…

Khu phố cổ Hà Nội là tên gọi thông thường của một khu vực đô thị có từ lâu đời của Hà Nội nằm ở ngoài hoàng thành Thăng Long. Khu đô thị này tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành lên những phố nghề đặc trưng, mang những nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị, kinh đô. Ngày nay khu phố cổ Hà Nội là điểm đến hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.
Đầu năm 1885, phố Hàng Khảm trở thành một phố được trải đá dăm khá tốt, rộng từ 16 mét đến 18 mét, các cửa hàng hầu như của người châu Âu. 

Từ khi thực dân Pháp đắp lại con đường nối từ Đồn Thủy (cửa khu Nhượng địa) tới Cửa Nam thành cổ, thành một con đường rải đá, đổ nhựa, dài chừng 1,5km, và họ gọi đường này là phố Hàng Khảm. Nghĩa là, phố Hàng Khảm khi ấy có chiều dài bao gồm phố Tràng Tiền, phố Hàng Khay và phố Tràng Thi ngày nay. Theo công trình nghiên cứu của Giám đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương André Masson, vào khoảng năm 1820, Hà Nội đã có tên phố Hàng Khảm (Rue des Incrusteurs). Họ đặt tên phố như vậy bởi quãng từ gần trường đúc tiền (thuộc phố Tràng Tiền ngày nay) đến giáp trường thi Hương của Hà Nội (nay thuộc phố Tràng Thi) có nhiều nhà vừa sản xuất vừa bán hàng khảm xà cừ, khảm trai như sập gụ, tủ chè, bàn ghế, tráp, cơi trầu, khay trà... Tuy nhiên, các hàng khảm đều nằm chủ yếu ở đoạn mé nam hồ Hoàn Kiếm.


 


Lùi ngược vài thế kỷ thì thấy, trên đất Thăng Long đã có nhiều thợ thủ công khéo tay; lại có những thợ thủ công gốc Nam Định lên Kinh kỳ lập nghiệp trải qua nhiều đời; đặc biệt, có những thợ thủ công mỹ nghệ rất giỏi nghề khảm trai gốc làng Chuyên Mỹ, Phú Xuyên, trấn Sơn Nam, lên hành nghề ở Thăng Long, rồi định cư ở đất này. Những thợ khảm trai và xà cừ gốc làng Chuyên Mỹ (tên Nôm là làng Chuôn) lên Thăng Long, sống tập trung tại làng Cựu Lâu và họ đã lập tại đây đền thờ Nguyễn Kim - Tổ nghề khảm trai Chuyên Mỹ. Làng Cựu Lâu ở vị trí thuộc khu vực phố Tràng Tiền, Hàng Khay ngày nay. Trải nhiều thời gian hành nghề trên đất Thăng Long - Hà Nội, đến thế kỷ XIX, kỹ nghệ chạm khảm có bước phát triển mạnh khi người Pháp đặt chân tới đất này. Các thợ thủ công đã có sự cạnh tranh khi nền kinh tế hàng hóa đã hình thành tại Hà Nội, khiến nhịp độ phát triển của nghề này càng nhanh. Và tất yếu, một phố nghề chính thức được ra đời, đó là phố Hàng Khảm.

Thời mới lập phố Hàng Khảm, đầu phố là Đồn Thủy, một đồn binh lớn, cuối phố, chỗ Cửa Nam thành Hà Nội, cũng có một trại lính Pháp, chỉ một quãng (tương đương Tràng Tiền - Hàng Khay ngày nay) là có nhà ở và cửa hiệu. Quãng phố này có một cổng lớn mở từ làng Cựu Lâu ra, nên gọi là cổng Cựu Lâu. Cổng này có hai trụ xây khá lớn, trên mỗi trụ có một con sư tử đá, tạo tác đơn giản nhưng oai nghiêm. Phố Hàng Khảm lúc ban đầu như A.Masson mô tả là “một con đường rộng chưa tới 3m đầy những hố nước tù đọng”. Và cũng theo A. Masson, chỉ một năm sau đã trở thành “một con đường rất rộng, chỉ còn thiếu những ngôi nhà kiểu châu Âu. Hai bên phố là những ngôi nhà lá. Hai, ba cửa hiệu của người Tàu, rất sạch và lịch sự, nằm đầu dãy các cửa hàng...”. 


Chính thời gian mở rộng đường phố đã phải phá bỏ cổng Cựu Lâu. Năm 1885, Đốc lý Hà Nội là Halais cho lập quy hoạch vùng quanh Hồ Gươm với một tiến trình là đến hết năm 1886 phải dỡ tất cả nhà lá và làm thay vào đó những ngôi nhà xây gạch lợp ngói. Có một dấu vết khá thú vị còn sót lại đến đầu thế kỷ XXI là trên “trán” ngôi nhà số 3 Hàng Khay vẫn còn dòng chữ đắp nổi năm xây nhà - 1886. Tuy nhiên, vào chính năm 1886, Tổng trú sứ Paul Bert qua đời, chính quyền thực dân cho cắt một đoạn phố Hàng Khảm, từ cửa ô Tây Long (khu vực Nhà hát Lớn ngày nay) đến ngã tư Hàng Giò, Hàng Thêu (ngã tư Bà Triệu, Lê Thái Tổ ngày nay), đặt tên là phố Paul Bert. Năm 1900, trên tạp chí Revue Indochinoise, ông Dumoutier, một học giả người Pháp, đã mô tả: “Mặt phố Paul Bert đoạn áp hồ (Gươm) toàn là nhà các thợ khảm. Những ngôi nhà này hẹp và thấp, xây bằng gạch, lợp ngói. Mặt trước nhà nào cũng có mái che lợp lá, gian giữa trông ra hồ...”.


 


Có một điều rất lạ là, khi chính quyền thực dân đặt tên phố Paul Bert năm 1886, nhiều người dân Hà Nội đã gọi đoạn trên phố, nơi vốn có trường đúc tiền, là Tràng Tiền, đoạn tiếp đó là Hàng Khay. Và, phần còn lại của phố Hàng Khảm nhưng không có nhà nào làm và bán đồ khảm trai, xà cừ, thì người ta cứ gọi là Trường Thi vì đây vốn là khu vực tổ chức thi Hương ngày xưa, ít lâu sau thì gọi là phố Tràng Thi. Và dần dần tên phố Hàng Khảm cũng lu mờ trong đời sống. Cho đến năm 1945, Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi trở thành tên chính thức của ba phố ấy, và phố Hàng Khảm lùi sâu vào ký ức của Thăng Long - Hà Nội...

 

Đặc sản Đà Nẵng

Ẩm thực Đà Nẵng cũng là một nét văn hóa riêng độc đáo của Đà Nẵng và Miền Trung. Trong bài viết chia sẻ kinh nghiệm du lịch Đà Nẵng mình cũng đưa ra một danh sách các quán ăn ngon tại Đà Nẵng. Tuy nhiên chỉ bấy nhiêu thôi cũng không thể đủ được. Bài viết này mình sẽ tổng hợp chi tiết hơn danh bạ các Món Ngon tại Đà Nẵng. 

  

Bún mắm

 

Bà Thuyên (Lê Duẩn): bún mắm thịt quay nem chả, mắm ngon tuyệt cú mèo, húp được đã húp rồi. Cái này thì hơi cao cấp 1 xíu vì quán sá đàng hoàng sạch sẽ mà.

Bà Lệ (ở góc ngã tư Nguyễn Hoàng với Nguyễn Văn Linh): bún mắm thịt luộc nem chả tai mui, mắm ngon ko thua gì bà Thuyên.

Bà mập ngã ba Trần Bình Trọng và Ngô Gia Tự: bún nem chả tai mui. Quán này mắm không được ngon cho lắm nhưng có cái chả mỡ chiên tuyệt. Bà chủ rất chi là tốt bụng, xin rau là cho cả mớ luôn

Quán không nhớ tên ở đườg Trần Kế Xương: Bún mắm nem chả thịt quay tai mui cái gì cũng có. Giá cả cũng phải chăng khoảng 5K/tô (giá cũ lâu rồi). Nếu ăn thập cẩm thì có thể mắc hơn 1, 2 nghìn gì đó. Chả mỡ ở đây cũng giống như bà mập.

 

Bún thịt nướng

 

Bà Dưỡng Kiệt 11 Hoàng Diệu, Thành phố Đà Nẵng: nước tương ngon số 1 không đâu sánh bằng. Nhưng quán ở trong hẻm hơi bị chật chội. Trong cái hẻm đó cũng rất nhiều quán ăn theo nên phải chú ý vào đúng quán có cữ “BÀ DƯỠNG”, ngoài bún thịt nướng còn có Bánh Xèo cũng rất ngon.

Quán Bà Ngọc, nhiều chi nhánh: Yên Báy, Pasteur, Đống Đa. Chỗ này được cái tương ngon và béo.

Bà Trai Đống Đa (quán này ko có bánh xèo) rau ngon, thịt ướp cũng ngon. Rẻ hơn bà Ngọc.

Bà Xuân (gần siêu thị): ở đây có cả bún mắm nữa, cũng ngon. Nghe giang hồ đồn có mín ram cuốn cải mà chưa ăn thử nơi

 

 

 

 

 

               Mì Quảng Đà Nẵng

 

 

Bánh bèo lọc nậm gói ít ram

 

Nguyễn Chí Thanh: có 2 quán đầu đường và cuối đường, quán nào cũng ngon.

Hoàng văn Thụ (bà Bé).

Trần Cao Vân (chỉ bán bánh bèo vào buỏi sáng từ 6-9h ) đối diện cái xí nghiệp gì đó của đườg sắt.

Quán nhỏ nhỏ đường Nguyễn Du: siêu rẻ, gần trường Nguyễn Khuyến, bà chủ quán bị còng.

Ngoài ra còn có thể vô chợ ăn: Cồn hoặc Hàn market chẳng hạn, ngon chán

 

Quà bánh mua về làm quà

 

Một món bánh có thể mang về làm quà: Bánh khô mè bà Liễu – bánh vừng giòn thơm.

Quầy thực phẩm Bé ti Quầy 135 Chợ Hàn Đà Nẵng: Chỉ cần gọi tới số 0511 837262 là được mang tận nơi, mình ra mua trả tiền rồi chủ hàng mang đến tận khách sạn cho mình.

Quầy mắm Chị Bé (Nhựt Hoàng): Quầy H34/6 K266, số điện thoại 0511582182 rất nhiều loại mắm ngon và cũng mang đến tận nơi luôn.

Quầy Dì nuôi (136 Chợ Hàn – Sđt: 05113812417) – hoặc gọi số 01688919295 để mua đồ hải sản khô, cá, mực, bò, nai khô ăn liền ngon, đóng đồ cẩn thận, bán hàng thật thà, không “ship” hàng.

Tré Bà Đệ – đặc sản Đà Nẵng tại 81 Hải Phòng.

Ngoài ra tại chợ Hàn có thể mua đặc sản của các vùng lân cận với chất lượng tốt, không mua sẽ tiếc đấy nhé, ví dụ như: tỏi và hành tím Lý Sơn, mạch nha đặc sản Quảng Ngãi, thanh trà của Huế…

Mytour.vn - 

 

Làng cổ Thổ Hà - Bắc Giang

ốn dĩ đã đi lên cùng với tiếng là làng có nghề truyền thống làm bánh đa nem, mì gạo, nghề gốm. Làng Thổ Hà khuất sau những tiếng xe cộ, phố xá nhộn nhịp. Nằm ở xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Được coi là mảnh đất “địa linh nhân kiệt," nổi tiếng trong cả nước với nghề làm gốm và quần thể kiến trúc cổ thuần Việt mang đậm dấu ấn của văn hóa đồng bằng Bắc Bộ.

Thổ Hà đang là một địa chỉ quen thuộc, hấp dẫn của khách du lịch trong và ngoài nước, của những người nghiên cứu về kiến trúc và mĩ thuật, của những nghệ sĩ và nghệ nhân về tìm cảm hứng. Chương trình tham quan của khách du lịch có thể là: ngắm cảnh trên bến dưới thuyền của dòng sông Cầu, thăm đình làng, chùa, cổng làng, văn chỉ, xem các cây đa cổ thụ, thăm một số nhà cổ trong làng, xem những ngõ xóm hun hút đẹp với vẻ cổ kính, thăm lò sản xuất gốm, thăm các gia đình sản xuất bánh đa nem và mỳ gạo bằng máy và thủ công, thăm các gia đình nấu rượu gạo. Khi về du khách nên mua vài trăm bánh đa nem, vài cân mỳ gạo, vài lít rượu gạo nếp để làm quà. Nếu du khách thích cảm giác mạnh hãy đến thăm Thổ Hà khi nước sông Cầu ở mức báo động số 3.

 

Khi du khách đến thăm Thổ Hà có thể đồng thời đến thăm hai địa điểm du lịch nổi tiếng nữa của đất Kinh Bắc, đó là Chùa Bổ Đà và Đền Bà Chúa Kho. Các địa điểm này chỉ cách nhau từ 3 đến 5 km.
Đường đi tới làng: từ Hà Nội theo quốc lộ 1 về hướng Bắc 31 km tới thành phố Bắc Ninh, rẽ trái đi 3 km tới phố Đặng, ngược theo đê sông Cầu 1 km thì tới bến đò Thổ Hà, sang đò là tới làng.

Thổ Hà - Làng nghề vang bóng một thời

 


Chỉ vài phút đi đò là sẽ tới làng


Nghề gốm

Nghề gốm Thổ Hà có từ thế kỉ 12 và là một trong ba trung tâm gốm sứ cổ xưa nhất của người Việt, bên cạnh Phù Lãng và Bát Tràng. Theo gia phả làng nghề và những mẫu hiện vật khảo cổ được tìm thấy thì Thổ Hà là một trong những chiếc nôi của nghề gốm sứ. Thổ Hà đã là một thương cảng gốm tấp nập của vùng Kinh Bắc. Sự hưng thịnh của nghề gốm đã giúp người dân xây dựng một quần thể kiến trúc đình, chùa, văn chỉ, cổng làng, điếm bề thế uy nghi.

Trong làng còn lưu truyền câu chuyện ông tổ nghề gốm làng Thổ Hà là tiến sĩ Đào Trí Tiến. Vào cuối thời Lý (1009 - 1225) ba ông Đào Trí Tiến, Hứa Vĩnh Cảo và Lưu Phong Tú cùng làm quan trong triều và được cử đi sứ Bắc Tống (960 - 1127). Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu, tỉnh Quảng Đông gặp bão, phải nghỉ lại. Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được kỹ thuật làm gốm. Về nước Đào Trí Tiến truyền nghề làm hàng gốm sắc đỏ thẫm cho Thổ Hà, Hứa Vĩnh Cảo truyền nghề làm hàng gốm sắc trắng cho Bát Tràng, Lưu Phong Tú truyền nghề làm hàng gốm sắc vàng thẫm cho Phù Lãng. Trước đây lễ dâng hương Tổ nghề gốm (suy tôn cả ba ông) hàng năm được các nhà làm nghề gốm ở Thổ Hà tổ chức luân phiên nhau tại gia đình.

Nghề làm bánh đa nem

Từ bột gạo ngoài sản phẩm chính là bánh đa nem người dân còn sản xuất mỳ gạo và bánh đa to rắc vừng. Mỳ gạo Thổ Hà bó thành bó to 1 kilogam cũng rất nổi tiếng, mỳ nấu dai mà không nát, nghề làm mỳ gạo có trước nghề làm bánh đa nem hiện nay. Bánh đa vừng Thổ Hà còn ngon hơn bánh đa Kế. Mỗi gia đình làm bánh đa nem và mỳ thường chăn nuôi khoảng chục con lợn, mỗi con lợn nặng trên một tạ mới bán, đó là nguồn thu nhập rất lớn. Nhờ nghề làm bánh đa nem dân làng có một cuộc sống xán lạn hơn xưa, phần lớn các gia đình đều có xe máy, tủ lạnh, ti vi, máy giặt, sinh hoạt không khác thành phố là mấy.

Trước đây người làm bánh đa nem phải hì hục quạt lò để tráng bánh bằng phương pháp thủ công, nhưng từ khi có điện, với kỹ thuật tráng bánh mới theo dây chuyền cho năng suất cao đã giảm bớt sự vất vả của con người, năng suất tăng lên gấp ba đến bốn lần. Một gia đình một ngày làm được 250 kg mỳ gạo. Vào những dịp gần tết, bánh đa nem của Thổ Hà làm ra không đủ đáp ứng cho nhu cầu của thị trường. Thời gian bánh bán chạy nhất bắt đầu từ tháng 9 cho đến hết tháng 2 năm sau. Bánh đa nem Thổ Hà mang hương vị thơm man mát, màu trắng ngần vừa thơm, lại vừa dai nên không những có uy tín với khách hàng trong nước mà nhiều chủ đại lý đã đến ký hợp đồng để xuất khẩu sang các nước Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và rất được những thị trường này ưa chuộng. Tuy nhiên, các hộ dân sản xuất bánh đa nem vẫn còn ở mức nhỏ lẻ, chưa có thương hiệu, bánh đa nem Thổ Hà chưa vào được các siêu thị ở những thành phố lớn.

Ngoài nghề làm bánh đa nem, hiện nay một số gia đình vẫn còn làm nghề nấu rượu, nhưng sản xuất rượu gạo nếp rất ngon và bán với giá cao.


 


Công việc hàng ngày của người dân ngoài lúc làm nghề


Thổ Hà - Quần thể kiến trúc cổ thuần Việt

Thổ Hà còn nổi tiếng với những kiến trúc cổ từ nhà cửa đến cổng làng, khu giếng cổ đều được làm bằng gạch nung và sành đắp nổi không tráng men. Đặc biệt nơi đây còn hiện hữu ngôi chùa cổ kính và ngôi đình bề thế - một kiệt tác của kiến trúc cổ truyền Việt Nam.

 

 


Chút nắng vàng yếu ớt của ngày tàn


Cổng nằm ở ngay đầu làng phía trước đình, bên tả là hồ nước rộng, bên hữu có cây đa hàng trăm năm tuổi mang đậm dấu ấn văn hóa của cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.


 


Con ngõ nhỏ hẹp cùng với bà cụ đang ngồi hóng mát


Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc, là bông hoa của nghệ thuật chạm khắc Việt Nam và được xếp hạng là di tích Kiến trúc, Nghệ thuật cấp Quốc gia. Đình được xây dựng vào năm 1692, thời vua Lê Hy Tông và là một công trình kiến trúc quy mô với nghệ thuật điêu khắc độc đáo từng được Viện bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ xếp hạng. Ðình thờ thành hoàng làng là Lão Tử và tổ sư nghề gốm Ðào Trí Tiến. Đây là ngôi đình cổ thứ hai ở Bắc Giang (sau đình Lỗ Hạnh được xây dựng năm 1576). Đình Thổ Hà tiêu biểu cho không gian tâm linh, văn hóa của người Việt với nét kiến trúc đặc trưng, các mảng chạm khắc thể hiện đề tài “tứ linh, tứ quý” hoa lá cách điệu, chim thú và con người. Hiện đình còn lưu giữ được chín tấm bia cổ chứa nhiều giá trị nghiên cứu văn hóa, lịch sử.

 

Chùa Thổ Hà có tên là “Đoan Minh Tự” là một di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Chùa xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, có quy mô lớn, bao gồm cổng tam quan, gác chuông và tiền đường. Tam quan chùa nằm sát sau đình. Gác chuông và tiền đường được chạm trổ lộng lẫy với các đề tài rồng mây, hoa lá… Trong chùa có tượng Phật tổ Như Lai to lớn và tượng Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen. Từ tòa Tam Bảo theo hai dãy hành lang vào tới Động Tiên, là một công trình kiến trúc hiếm có. Động tiên đã ghi lại đầy đủ hình ảnh Thích Ca từ lúc mới sinh ra, lúc trưởng thành và khi lìa bỏ kinh thành vào động tu hành đến đắc đạo. Tiếp theo đi qua sân rộng tới nhà Tổ, nơi đây thờ Sư Tổ và các vị sư đã trụ trì tại chùa.  


 


Gồ gánh những gánh hàng


Văn chỉ làng Thổ Hà được xây dựng vào thế kỷ 17, thờ Khổng Tử, Tứ Phối và 72 vị tiên hiền… Nơi đây được coi là cái nôi của nền học thức Thổ Hà. Đây cũng là địa điểm thu hút khá đông du khách đến tham quan, nhất là vào mùa thi cử, các sĩ tử đến đây thắp hương, lễ bái với tấm lòng thành kính mong được đỗ đạt hiển vinh. Văn chỉ làng Thổ Hà được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa ngày 28/2/1999.


 


Vẻ đẹp cổ kính, thuần Việt, sự hồn hậu, mến khách của người dân và lợi thế cách không xa trung tâm thủ đô, làng cổ Thổ Hà đã và đang tạo sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và ngoài nước, với những người nghiên cứu về kiến trúc và mỹ thuật, những nghệ sĩ và nghệ nhân đến tham quan và tìm cảm hứng.